Tác hại của Methanol đối với con người

I.Quá trình chuyển vận, chuyển hoá và đào thải Methanol trong cơ thể người (Toxicokinetic) và tác dụng của chất độc trên cơ thể người và linh trưởng (Toxicodynamics)

Methanol là một cồn vốn có 1 carbon, khi uống, Methanol hấp thu nhanh qua đường tiêu hoá vào máu, không gắn vào Protein. Nồng độ đỉnh đạt được từ 30 đến 240 phút, chuyển hoá chủ yếu ở gan (> 85%) còn số ít đào thải nguyên vẹn qua thận (3%), và hơi thở (< 10%). Methanol có trọng lượng phân tử thấp 32 dalton, thể tích phân phối (Vd) tử 0.60 đến 0.77 l/kg.

1. Methanol được chuyển hoá rất chậm, thông qua alcohol dehydgenase để tạo thành formaldehyde rồi thành acid formic và sự ngộ độc thầm lặng của anion formate.  Ngoại trừ một số ít động vật linh trưởng (khỉ,vượn, người) thì formate kôhng độc cho các úc vật vì thế nghiên cứu trên động vật không được áp dụng, lý do cho sự khác biệt này có thể là lượng folate trong gan người quá ít, không đủ để enzyme tetrahydrofolate tại gan chuyển hoá formate thành CO2 và H2O, vì thế nghiên cứu trên thực nghiệm hạn chế giá trị trong sự hiểu biết sâu hơn, nhưng quan trọng là từ các vụ ngộ độc, các nét đặc trưng trong lâm sàng, cận lâm sàng đã cho nhưng kiến thức quan trọng.

2. Trong giai đoạn muộn, fomate ức chế cytocrome oxidase là enzyme cuối cùng trong chuỗi vận chuyển “điện tử” trong ti thể tế bào bởi việc gắn ion ferric của một nửa enzyme này trong Heme

Formate ức chế hô hấp ti thể hậu quả là tăng lactate formalđehyde có độc tính cao nhưng nửa đời sống lại quá ngắn (1-2 phút) rất khó phát hiện trong máu vì thế không quan trọng trong thực hành. Để làm tăng chuyển hoá của fomate, thì folic acid hay folimic acid (leucovorin) có vai trò đóng góp trên lý thuyết, nhưng chưa dược chứng minh trên lâm sàng.

II. Chẩn đoán ngộ độc Methanol

Chẩn đoán ngộ độc Methanol là khó khăn, chủ ýêu dựa vào hỏi bệnh, đánh giá triệu chứng đặc hiệu trên lâm sàng, phát hiện toan chuyển hoá, đo khoảng trống thẩm thấu (OG) và anion (AG); cuối cùng là đo trực tiếp Methanol bởi phương pháp sắc ký khí (gas chrowatography) nhưng biện pháp này rất ít nơi làm được, thậm chí nếu làm dược thường không thể làm trong 24 giờ.

Sự hỏi bệnh đóng vai trò quan trọng trong chẩn đoán ngộ độc Methanol tuy nhiên triệu chứng xuất hiện thường muộn sau 12 đến 24 giờ hoặc dài hơn sau khi uống và cần phải làm chẩn đoán phân biệt, nếu uống thêm cả ethanol, triệu chứng xuất hiện còn muộn hơn ví dụ uống hỗn hợp Methanol 20% và Ethanol 20% triệu chứng lâm sàng xuất hiện muộn và nộg độc methanol lại giống như ngươì nghiện lthèm ethanol: co bóp dạ dày ruột, nôn, buồn nôn, đau dầu thở nhanh, mệt toàn thân, dãn đồng tử. Nếu bệnh nhân là người nghiện rượu càng dễ nhầm lẫn cho cả bệnh nhân và thầy thuốc.

Một dấu hiệu lâm sàng khác có gía trị chẩn đoán nhưng khó tìm thấy là giả viêm gai thị (pseudopaphillitis) đặc trưng bởi xung huyết đĩa thị giác, mờ, phù nề bờ đĩa thị giác không có một tác động khúc xạ nào với võng mạc, đồng tử dãn, người bệnh thấy rối loạn nhìn, giảm thị lực, nhìn thấy các chấm sáng nhảy hay thấy toàn tuyết trắng, phản xạ với ánh sáng có thể mất.

Các xét nghiệm cận lâm sàng cũng cho như gx gợi ý chẩn ođán quan trọng đó là sự tăng thông khí với PaCO2 giảm ban đầu, và đặc biệt kiềm thiếu hụt rất lớn BD > 20 mmol/l, dấu hiệu nhiễm toan chuyển hoá càng nặng thì tiên lượng càng xấu (pH 10 mosmol/kg H2O) trong khi khoảng trống anion vẫn trong giới hạn bình thường trong giai đoạn trung gian thì xuất hiện cả hai khoảng trống đều tăng (giai đoạn này phần lớn bệnh nhân mới nhập viện) và trong giai đoạn muộn (≤ 30 giờ), khi mà toàn bộ Methanol đã được chuyển hoá, khoảng trống thẩm thấu hạơc còn cao hay trở về bình thường, trong khi đó khoảng trống anion tăng rất cao do sự tích luỹ cả acid formic và cả lactate.

Giai đoạn muộn có thể kéo dài nếu nạn nhân uống Methanol cùng với Ethanol. Những nơi có điều kiện đặc biệt về xét nghiệm đo nồng độ Methanol máu sẽ thấy cao hơn 20mg/dl, nếu cao > 40 mg/dl là ngộ độc rất nặng, bệnh nhân có thể xuất hiện mù, co giật, hôn mê và tử vong trong tình trạng toan máu mất bù, việc đo formate trong máu là chẩn đoán chắc chắn nhưng chưa có khả năng thực hiện ở nhìều nơi. Chụp cắt lớp sọ não (CT scan) và cộng hưởng từ (MRI) có thể phát hiện tổn thương phù và hoại tử các hạch nền, đặc trưng là vùng nhân bèo xám (Putamen). Những dấu hiệu này có thể giải thích một biến chứng của ngộ độc Methanol nếu được cứu sống là hội chứng Parkinson-like extrapyramidal biểu hiện: cứng đơ, rung giật cơ nhẹ, vận động chậm, đờ đẫn hay điên khùng mất trí nhẹ.

III. Điều trị ngộ độc Methanol

Các biện pháp ban đầu nhằm đào thải Methanol ra ngoài đường tiêu hoá đều không cần thiết ít tác dụng như : rửa dạ dày cho uống than hoạt, bởi lẽ khi uống Methanol hấp thu rất nhanh, mà phần lớn bệnh nhân lại đến muọn. Kiểm soát chức năng sống là cần thiết đầu tiên; giải quyết ngay tình trạng toan chuyển hoá bằng truyền Bicarbonat natri (500 – 800 mEq) trong vài giờ đầu nhằm giảm một số lượng acid formic không phân ly. Giảm lượng Formate vào thần kinh trung ương và giảm độc cho mắt. Nhằm ức chế chuỷên hoá Methanol thành acid formic sử dụng hai loại thuốc giải độc (antidote) là:

Formepizole (Antizol) rất có hiệu quả trong điều trị ngộ độc Methanol và cả ngộ độc Ethylenglycol. Fomepizole hiệu quả với các triệu chứng ngộ độc Methanol, không gây tác dụng thần kinh trung ương dễ sử dụng, ít tác dụng phụ (không gây viêm tuỵ) và giảm cả yêu cầu lọc máu. Nhưng giá thành rất đắt, cũng khó thực hiện.

Ethanol là một cồn ức chế cạnh tranh alcohol dehdrogenase gấp 10 lần mạch hơn Methanol, nhưng yếu hơn Fomepizol rất nhiều. Ethanol có thể truyền tĩnh mạch với dung dịch 10% và cho uống với dung dịch 20%. Một mức Ethanol máu mà đạt được là 22 mmol/L (100mg/dl) có thể đủ làm ngừng chuyển hoá Methanol (nồng độ Ethanol/Methanol ít nhất bằng 1/4). Nhiều tác giả khuyến cáo cho Ethanol liều bolus 0,6 g/kg (13 mmol/kg), tiếp theo là 66 – 154 mg/kg/giờ (1,4 – 3,3 mmol/kg/giờ) tĩnh mạch hay uống. Tuy nhiên, phải theo dõi nồng độ Ethanol máu mỗi 1,2 giờ vì đường máu có thể hạ.

Lọc máu (hemodialysis) là một biện pháp được chỉ định ngay cả khi bệnh nhân có rối loạn nhìn, suy thận, toan chuyển hoá. Lọc máu làm tăng đào thải Methanol và chất chuyển hoá. Tuy nhiên, nếu có lọc máu thì liều Ethanol phải tăng gấp đôi vì lọc máu cũng lấy đi Ethanol. Lọc máu nên liên tục ít nhất từ 4 đến 8 giờ sao cho Methanol máu ở mức nhỏ hơn 20 mg/dl (< 6mmol/l) và toan máu được điều chỉnh. Lọc màng bụng ít hiệu quả hơn, còn lọc máu hấp phụ là hiệu quả nhất.Để tăng đào thải fomate, có tác giả nói đến coh acid folic hoặc leucovorin với liều 1 – 2 mg/kg tĩnh mạch mỗi 4 – 6 giờ. Tuy nhiên, tác dụng chưa được chứng minh trong thực hành.

IV. Kết luận

Cho dù điều trị ngộ độc Methanol có nhiều tiến bộ nhưng vâieät nam xlà một tình trạng bệnh lý rất nặng và tử vong cao. Chẩn đoán chậm là một khó khăn chính do triệu chứng lâm sàng đặc trưng thường bị che dấu, mất đi bởi nhiều lý do khác.Điều trị là khó khăn, nên cần dược hội chẩn tư vấn với Trung tâm Chống độc, đặc biệt khó khăn với các thuốc điều trị nhất là khi đứng trước một bệnh nhân hôn mê với toan chuyển hoá mà không rõ nguồn gốc hoặc bệnh nhân có tiền sử bệnh đáng nghi ngờ cần phân tích khí máu, đo OG và AG, soi đáy mắt, đo Methanol và formate máu (nếu có). Điều trị sớm là quyết định sự thành công, cho kiềm điều chỉnh toan về bình thường, nếu có fomepizol là tuyệt vời, cũng nên dùng ethanol trước khi chẩn đoán chắc chắn, nếu thấy cả hai khoảng trống đều tăng và OG > 20mosm/kg H2O, lọc máu nên quan tâm ngay có thể nếu thấy bất kỳ rối loạn nhìn và toan chuyển hoá. Độ dài của điều trị dựa trên OG và pH.

Tiên lượng xấu nếu bệnh nhân hôn mê, pH 25 mmol/l và mất bù hô hấp.

 

Hình ảnh

1
Tuấn Phát: 043.555.3139
2
Đặng Văn Hùng: 098 5643 192
3
Tuấn Phát: 043.555.3139
4
Đặng Văn Hùng: 098 5643 192
5
Tuấn Phát: 043.555.3139
6
Đặng Văn Hùng: 098 5643 192

Facebook

hhtn


TUANPHATID ., LTD
No 16, Lane 107, Tran Duy Hung Str, Trung Hoa Ward, Cau Giay Dist, Ha Noi
Tel : 098.5643.192 / 043.555.3139 * Fax : 84-4-35553140
Email : tuanphatid@gmail.com